Manuel Neuer và sự tiến hóa của vị trí thủ môn

By Nguyễn Nam Khánh | Thứ 2 - ngày 08/01/2018

10 năm qua, lời khẳng định Manuel Neuer chính là thủ môn có sức ảnh hưởng lớn nhất mọi thời đại dường như là một ý kiến rất thuyết phục. Những màn trình diễn của anh trong màu áo Bayern Munich và đội tuyển Đức trong vai trò sweeper-keeper đã xóa tan sự bí ẩn xoay quanh vị trí người gác đền, thay đổi tư duy huấn luyện thủ môn của các nhà cầm quân, và có thể thuyết phục hàng triệu trẻ em trong giới bóng đá học đường trên khắp châu Âu rằng, tính chất của công việc trấn giữ cầu môn không phải là một biểu hiện của bệnh thiếu giao tiếp xã hội.

Có vẻ hơi quá đà khi chỉ dựa vào một cầu thủ để đưa ra kết luận cho tất cả, ngay cả khi anh ta là thủ môn xuất sắc nhất thế giới, đang chơi bóng cho hai trong số những đội bóng thành công  nhất và có danh tiếng lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, tài năng của Manuel Neuer, như HLV thủ môn của đội tuyến Đức Andreas Köpke đã nhận xét: "Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một sweeper nào xuất sắc hơn cậu ấy, ngoại trừ Franz Beckenbauer" – có thể tạo nên một cuộc cách mạng tại vị trí thi đấu huyền thoại này.

Nếu tất cả thủ môn đều có xu hướng dâng cao giống Manuel Neuer, mỗi huấn luyện viên sẽ triển khai trận đấu với một sweeper-keeper. Bởi vì rất ít đồng nghiệp có được tố chất kiên định, mạnh mẽ và quyết đoán như Neuer, nên các huấn luyện viên không muốn liều lĩnh sẽ có xu hướng ưa chuộng những thủ môn được Packie Bonner gọi bằng cụm từ “the Big Saves” (ám chỉ những thủ môn có thể thực hiện các pha cản phá xuất sắc)

Sự bảo thủ ấy sẽ kéo dài được bao lâu ? Trong một môn thể thao mà các chuyên gia ở vị trí của mình bị đòi hỏi phải trở thành một người đi theo chủ nghĩa tổng quát - một xu hướng được tạo ra bởi lối chơi “bóng đá tổng lực” của Rinus Michel vào những năm 1970 - những thủ môn chỉ biết cản phá bóng sẽ trở nên hiếm hoi giống như những full-back chỉ biết tắc bóng hay những striker không biết làm gì khác ngoài việc ghi bàn trong khi vực 6 yard của vòng cấm.

Con tằm và những nhà khoa học

Sự chuyển mình đột ngột của Manuel Neuer từ “giỏi” thành “vĩ đại” có đóng góp của sự tự do mà chiến thuật của Pep Guardiola tại Bayern Munich đã trao cho anh. Rất hiếm huấn luyện viên nào cảm thấy vui mừng khi gã thủ môn của mình chủ động dâng cao lên … vạch giữa sân. Tuy nhiên, sự phát triển của Neuer cũng là một biểu hiện của cá tính riêng của anh.

Trong trận thắng 2-1 của Đức trước Algeria sau hai hiệp phụ tại tứ kết World Cup 2014, Neuer đã rất nhiều lần cứu nguy cho các đồng đội như một hậu vệ thứ 5, nhiều người cho rằng thủ môn này đã hành động quá liều lĩnh. “Nếu tôi cảm thấy sợ hãi, tôi đã chọn giữ nguyên vị trí của mình,” Anh nói. “Tôi không thể do dự. Khi đã đưa ra quyết định, tôi phải thực hiện nó đến cùng. Cũng đã có một vài rủi ro xuất hiện, nhưng tôi chưa bao giờ bị rút ra khỏi sân.

leigh richmond r

Ảnh: Leigh Richmond Roose

Đây chính là mẫu thủ môn mà Leigh Richmond Roose - một trong những ngôi sao vĩ đại nhất lịch sử bóng đá Anh vào thế kỷ trước – sẽ chấp nhận. Năm 1906, trong cuốn The Book Of Football, Roose đã viết như sau: “Một thủ môn giỏi, cũng giống như một nhà thơ, là do bẩm sinh chứ không phải nhờ luyện tập mà tạo ra.

Phòng trường hợp các đồng đội, các huấn luyện viên và các cổ động viên không rõ về điều này, Roose đã nói thêm : “Để chứng minh mình là một thủ môn thành công, một cầu thủ phải có bản năng độc lập, vì những tố chất đáng tin cậy nhất của một cầu thủ thi đấu ở vị trí này đều hội tụ hết trong anh ta, và trừ khi anh ta chỉ muốn thi đấu theo kiểu thuần túy, giống như một con tằm phải tự nhả tơ.

Là nhân tố duy nhất được phép dùng tay chơi bóng trong trận đấu, con tằm đó đã tự cho phép mình quyền đưa ra những quyết định kỳ quái. Vào năm 1916, William Foulkes, người gác đền lừng danh của Chelsea, đội tuyển Anh và  Sheffield United, đã nâng một gã tiền đạo hiếu chiến lên, chà mũi anh ta vào bùn, và bằng một tay, đưa thẳng anh ta đến chỗ huấn luyện viên. Chính những hành động như vậy đã khiến cho cú phá bóng kiểu bọ cạp của Rene Higuita, kiểu chạy bắt vịt của Seep Maier và bộ trang phục Superman của John Burridge - được mặc bên trong bộ đồng phục Wolves của anh ta để thắng 100 bảng từ Kevin Keegan – trở thành những chuyện quá bình thường.

Burridge đã liên hệ, mặc dù hơi khiên cưỡng, một luận điểm của Vladimir Nabokov, một nhà văn người Nga và đồng thời cũng từng là một thủ môn thi đấu ở cấp độ sinh viên, cho rằng công việc đứng giữa khung thành chính là “một trãi nghiệm đặc biệt trong tư cách một cầu thủ bóng đá Anh.”. Tinh hoa của môn nghệ thuật kì lạ, lập dị và cường điệu này – cùng với những đặc quyền cho phép cầu thủ thể hiện hoặc ngụy trang cá tính của mình – có thể giải thích  vì sao thủ môn luôn là vị trí thi đấu đòi hỏi nhiều IQ nhất của bóng đá, đồng thời thu hút được sự chú ý của các nhà văn (Albert Camus), linh mục (Pope John Paul II), các nhà khoa học (Niels Bohr) và các nhà cách mạng (Che Guevara).

Cô độc giữa rừng

Sự mất phương hướng và bối rối luôn hiện hữu trong tâm trí của những người thi đấu ở vị trí thủ môn. Tại nền bóng đá Pháp, khi các đội bóng thay đổi thủ môn, họ sẽ nói: “Đến lượt cậu đi vào giữa rừng đấy,” (sáu từ cuối sẽ nghe có vẻ thâm thúy hơn khi nói bằng tiếng Pháp: “au milieu des bois.”). Camus từng sử dụng câu thành ngữ này một lần, để bảo vệ cho một thủ môn của Racing - đội bóng mà ông ưa thích - bằng cách nói rằng: “Chỉ khi đến đi vào giữa rừng, cậu mới nhận ra mọi chuyện sẽ khó khăn đến mức nào.”

camu

Ảnh: Albert Camus

“Cô độc giữa rừng” không phải là cụm từ có thể dùng để mô tả phong cách của Manuel Neuer, nhưng khả năng đối phó với những áp lực tâm lý không tránh khỏi, đã được nhắc đến trong nhận xét của Roose, khi ông cho rằng những tố chất đáng tin cậy nhất để bảo vệ khung thành “hoàn toàn nằm trong chính bản thân người thủ môn.

Một số người đã không thể chịu đựng nổi gánh nặng tâm lý mà mình phải mang. Ví dụ như Peter Bonetti tội nghiệp, người đã phải trở thành một nhân viên đưa thư trên đảo Mull sau khi bị đổ lỗi trong thất bại 3-2 của đội tuyển Anh trước Tây Đức ở trận tứ kết World Cup 1970.

Một cái tên tiêu biểu khác chính là thủ môn người Brazil, Moacyr Barbosa, từng được xem là một trong những người gác đền xuất sắc nhất thế giới cho đến khi Uruguay ghi 2 bàn vào lưới ông trong thất bại lịch sử Maracana năm 1950. Sau khi bị một người mua hàng chỉ trích là “kẻ khiến người Brazil phải khóc”, Barbosa đã phải cố gắng “giải xui” bằng việc tổ chức một bữa tiệc nướng đặc biệt vào năm 1963. Đống củi mà ông dùng để đốt ngày hôm đó, hóa ra chính là những cây cột gôn lấy từ Maracana trong buổi chiều định mệnh năm 1950.

Tất cả những bão táp, khó khăn, huyền bí và sự lập dị này đã lãng mạn hóa vai trò thủ môn, đưa nó gần như chạm đến ngưỡng triết học, điều này đã được thể hiện rõ trong tiêu đề cuốn tiểu thuyết The Goalie’s Anxiety At The Penalty Kick của nhà văn người Austrian Peter Handke. Cái giá phải trả cho tính chất huyền bí trong vai trò thủ môn chính là sự xa lánh, kì thị từ phần còn lại của thế giới bóng đá, một thái độ tiêu cực đã được chỉ ra trong tiêu đề cuốn Goalkeeper are crazy (thủ môn là những gã điên rồ) của Brian Glanville.

Không chỉ điên rồ mà còn là vô hình, sự hiện diện của họ thậm chí còn không được chú ý đến khi đội hình xuất phát được đưa ra. Thủ môn Jasper Cillessen của Barcelona từng thừa nhận: “Thẳng thắn mà nói thì nguyên nhân khiến bạn phải làm thủ môn chính là vì kỹ năng chơi bóng của bạn không đủ tốt. Nhưng bây giờ thì bạn cần phải biết chơi bóng một chút.” Điều đó vẫn chưa đủ để nói về những gì mà Neuer đã và đang làm: Khi Bayern Munich đánh bại Roma với tỷ số 2-1 vào tháng 11-2014, thủ môn người Đức đã thực hiện nhiều đường chuyền thành công hơn 8 cầu thủ Giallorossi.”

Sự phát triển của vị trí sweeper-keeper

Vậy điều gì đã thay đổi? Qúa trình thích nghi của thủ môn vào chiến thuật của đội bóng có lẽ được bắt đầu vào những năm đầu của thập niên 50, khi Gusztáv Sebes  cùng đội tuyển quốc gia Hungary tạo nên một cuộc cách mạng với đội hình 4-4-2, trong đó, các cầu thủ thường xuyên tráo đổi vị trí cho nhau và centre-forward Nándor Hidegkuti lùi sâu về tận vạch giữa sân.

Ban đầu, Gyula Grosics chính là người đi tiên phong trong vai trò sweeper-keeper, nhưng là do bất đắc dĩ chứ không phải được chủ động chọn lựa: “Chiến thuật tấn công của đội bóng đã tạo ra cho đối thủ nhiều cơ hội để thực hiện những pha phản công khi họ giành lại được quyền kiểm soát bóng.

Có một khoảng trống rất dễ bị đối thủ khai thác xuất hiện ngay phía sau hàng hậu vệ của chúng tôi và tôi phải thi đấu như một sweeper khác của đội ở bên ngoài khu vực thi đấu của mình, để cố gắng chạm bóng trước đối phương.

Việc giữ quyền kiểm soát bóng trở nên cực kì quan trọng trong công tác chống phản công, điều này khiến Grosics lựa chọn thực hiện những đường chuyền ngắn thay vì phá bóng mạnh lên phía trên, bởi vì chúng sẽ có độ chính xác cao hơn. Chiến thuật này đã được thực hiện cực kì thành công, đến mức mà Ferenc Puskás và Hidegkuti thường xuyên lùi sâu để nhận bóng, khiến đối phương bị nhiễu loạn.

gyulagrosic

Ảnh: Gyula Grosics

Phải mất một thời gian dài để chiến thuật này được phổ biến rộng rãi. Vào năm 1997, khi thủ môn người Đức Ronald Reng của Barnsley đề cập đến trong cuốn The Keeper of Dreams rằng hành động chuyền bóng ngắn đến cho một full-back gây bực mình đến mức một huấn luyện viên đã chạy vào sân trong hiệp 1 và đứng ngay ở vị trí gần đường biên ngang, nơi mà quả bóng sẽ được phát đến.

Rinus Michel mau chóng tiếp thu bài học của người Hungary. Tại World Cup 1974, huấn luyện viên người Hà Lan đã quyết định rằng Jan Jongbloed hoàn toàn đủ khả năng để thi đấu như một hậu vệ, cách khung thành 20 yard, và có thể mang đến lợi ích cho lối chơi “bóng đá tổng lực” hơn là những pha cản phá ngoạn mục của  Jan Van Beveren. Mặc dù không có gì phức tạp trong nhiệm vụ của Jongbloed - chạm bóng đầu tiên và phá nó lên – nhưng sự lựa chọn này cũng đã đánh dấu một cột mốc quan trọng. Huấn luyện viên của một trong những đội bóng hùng mạnh nhất lịch sử bóng đá thế giới đã chỉ ra rằng, đối với một thủ môn, việc chơi bóng (sweeping) quan trọng hơn chỉ đơn thuần là cản phá (keeping)

Ajax, Barcelona và Johan Cruyff

Johan Cruyff kế thừa triết lý của Michel trong vai trò huấn luyện viên của Ajax vào mùa giải 1985/1986, ông đã khuyên thủ môn Stanley Menzo: “Hãy chạy ra ngoài và mắc sai lầm.” Thông điệp đó phản ánh sự thừa nhận của ông về những rủi ro và thành công khi áp dụng phong cách này. Phần “rủi ro” sớm hiện lên rõ ràng khi Louis Van Gaal kế nhiệm Cruyff. Sự thiếu kiên nhẫn của ông với những sai lầm mà Menzo mắc phải đã khiến vị HLV người Hà Lan thay thế anh bằng Edwin Van de Sar, người đã thể hiện rất tốt với quả bóng trong chân và ít phạm sai lầm hơn Menzo khi ra khỏi vòng cấm.

Tuy nhiên, Cruyff vẫn không bỏ cuộc. Cái ý tưởng cho rằng “một thủ môn chỉ cần biết thực hiện những pha cản phá xuất thần là quá đủ cho một đội bóng” đã xúc phạm quan niệm của ông về bóng đá. “Thánh” Johan thậm chí còn có máu liều lớn hơn cả Michel, ông thích sử dụng Menzo vì những đóng góp của anh ta cho mặt trận tấn công chứ không phải khả năng cản phá khi trấn giữ khung thành.

DMKSBvUW4AA

Ảnh: Stanley Menzo

Năm 1992, khi Cruyff đoạt cúp châu Âu trong tư cách huấn luyện viên của Barcelona, một cậu bé 10 tuổi, thi đấu ở vị trí thủ môn và có tài năng đầy hứa hẹn, mang tên Victor Valdes, đã gia nhập lò đào tạo trẻ của CLB. Mặc dù Louis Van Gaal đã có 4 năm dẫn dắt Barcelona, nhưng đội bóng xứ Catalan vẫn trung thành với triết lý của Cruyff. Valdes là một thủ môn hoàn hảo cho lối chơi luân chuyển bóng nhanh mà Barca áp dụng dưới thời hai vị huấn luyện viên Frank Rijkaard và Guardiola. Từ năm 2009 đến năm 2011, Valdes không thực hiện nhiều tình huống cứu thua ngoạn mục bởi đội bóng của anh thường thi đấu áp đảo hoàn toàn đối thủ.

Trên thực tế, Victor Valdes đã dành rất nhiều thời gian ở bên ngoài vòng cấm, điều này cho thấy nhiệm vụ của một thủ một đã hoàn toàn thay đổi – và họ cần phải luyện tập với một mức độ như thế nào để thích nghi với sự thay đổi đó. 

Chuyền ngắn hay chuyền dài

Thông thường, khi đồng đội đang có bóng, nhiệm vụ của thủ môn là giữ nguyên vị trí của mình để phòng ngừa những mối nguy hiểm tiềm ẩn. Tuy nhiên, cách chọn vị trí của Valdes đã cho thấy sự cần thiết của việc phát hiện ra cả những mối nguy hiểm lẫn cơ hội. Như Bonner đã ghi nhận trong một ấn bảng của The Technician, mẫu cầu thủ này đã trở thành “một nhân tố có vai trò rất quan trọng trong việc build-up ngay từ hàng phòng ngự của đội bóng – không chỉ thực hiện những đường chuyền ngắn để bắt đầu thế trận kiểm soát bóng, mà còn kết hợp với khả năng triển khai bóng trực tiếp lên phía trên và phát động những pha phản công.

Phong cách huấn luyện kiểu cũ thường tập trung vào công việc của thủ môn trong một phần sân cụ thể, đã trở nên lỗi thời. Những người gác đền như Neuer phải biết đọc trận đấu, thực hiện những đường chuyền chính xác, ném bóng hiệu quả và thi đấu như một trung vệ hoặc hậu vệ cánh thứ ba.

Họ cũng phải hiểu được cách chọn vị trí của mình sẽ giúp đỡ hay gây hại cho đội bóng như thế nào. Một trong những nhà cầm quân có ảnh hưởng lớn nhất đến Pep Guardiola chính là Arrigo Sacchi. Cựu huấn luyện viên của A.C. Milan lập luận rằng, khoảng cách giữa hàng công và hàng thủ không nên quá 25m. Cự li đội hình này giúp đội bóng có đủ người cho mặt trận tấn công và liên tục gây sức ép lên đối phương, nhưng cũng rất dễ bị tổn thương khi đối thủ triển khai phản công nhanh với những đường bóng dài. Sự xuất sắc của Neuer giúp Pep Guardiola có thể cải tiến chiến thuật pressing của Sacchi, bằng cách biến thủ môn thành một hậu vệ khác trong đội hình.

Trong một thời đại đề cao sự tập trung, phong cách thi đấu của thủ môn ngày nay đã trở nên quá khác biệt với cái thời mà họ tự cô lập chính mình như Leigh Richmond Roose và hướng đến một lối chơi linh hoạt, năng động hơn, cả về chiến thuật lẫn tâm lý, để hòa thành một khối thống nhất với đội bóng. Có thể thế hệ thủ môn của Neuer có ít sự thần bí hơn so với các bậc đàn anh, nhưng họ cũng được phép chơi bóng tự do hơn những người đi trước.

Những người hoài cổ có thể sẽ không thích thú gì với sự thay đổi này, nhưng theo cách nói của Roose, Neuer không phải là một kẻ bắt chước. Huyền thoại người xứ Wales đã phàn nàn về “những kẻ chỉ biết ngồi trên ghế và chỉ trích về việc thủ môn nên làm gì, nên đứng ở đâu” trong một bài báo của ông vào năm 1906. Đối với Roose, một thủ môn nên biết tự tạo ra “sự đặc biệt” cho công việc của mình, và “đừng bao giờ ngần ngại” khi rời khỏi vòng cấm để phá bóng.

Neuer chính là người đáp ứng được hai tiêu chí của Roose một cách hoàn hảo.

Theo Fourfourtwo